Hành trì Phổ Hiền Bô Tát Thập đại nguyện vương

15/01/2022 1.024 lượt xem

HÀNH TRÌ PHỔ HIỀN BỒ-TÁT THẬP ĐẠI NGUYỆN VƯƠNG

(Trích lục ý nghĩa từ bài giảng Kinh Vô Lượng Thọ của Ân sư Thích Tịnh Không)
Đạo tràng Tịnh Độ tông Chúng Cư Sĩ Diệu Âm kính cẩn trích lục và biên soạn

oOo

Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện trong Kinh Hoa Nghiêm (theo bản dịch của Hòa thượng Thích Trí Tịnh) nói: “Lại người này lúc lâm chung, phút cuối cùng, tất cả căn thân đều hư hoại, tất cả thân thuộc đều phải bỏ lìa, tất cả oai thế đều bị thối thất, cho đến các quan phụ tướng đại thần, cung thành trong ngoài, voi ngựa xe cộ, trân bảo kho đụn, v.v… tất cả đều không đem một món nào theo được. Chỉ có mười nguyện vương này chẳng rời người mà thôi. Trong tất cả thời gian nó thường ở trước dẫn đường, trong khoảnh khắc liền sanh về cõi Cực Lạc. Ðến Cực Lạc rồi liền thấy đức A Mi Ðà Phật cùng các ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, v.v… các vị Bồ Tát này sắc tướng đoan nghiêm, công đức đầy đủ chung cùng vây quanh. Lúc bấy giờ, người ấy tự thấy mình gá sanh nơi hoa sen báu, được đức Phật xoa đầu thọ ký!”.

Khi lâm chung, tất cả các căn của thân thể con người đều bị tan hoại: mắt không còn thấy gì, tai không còn nghe gì,… như câm, như điếc,…; mê mờ theo nghiệp lực mà lưu chuyển; nghiệp lực nào mạnh nhất sẽ dẫn người chết đi tái sanh vào cõi tương ứng. Nếu người ấy tu Hạnh Phổ Hiền thì vào thời khắc cuối cùng này, 10 Nguyện Vương Phổ Hiền sẽ dẫn đường cho người ấy sanh vào cõi Cực Lạc.

Cho nên, 10 Nguyện Vương Phổ Hiền đối với người tu Tịnh Độ rất quan trọng, không thể nào không tu. Đặc trưng lớn nhất của Hạnh Phổ Hiền là tâm lượng rộng lớn như hư không: “Tâm bao thái hư, lượng châu sa giới” [Dịch nghĩa: “Tâm bao trùm khắp hư không, lượng trọn khắp tất cả các thế giới nhiều như cát bụi”]; nguyện phát ra là vĩnh viễn kiên cố, kiên trì đến cùng; phương hướng tu hành là độ tận hết thảy chúng sanh. Trong 10 Nguyện Vương Phổ Hiền, nguyện sau bao hàm nguyện trước, nguyện trước làm nền tảng tu hành để tiến lên nguyện sau; mỗi nguyện đều tương ưng với Tự Tánh, đều là tự nhiên lưu xuất ra từ trong Tự Tánh.

1. Nguyện thứ nhất là “Lễ kính chư Phật”:

“Lễ” biểu hiện ở bên ngoài là cung cung kính kính. “Kính” giữ ở trong lòng, trong tâm có chân thành, có ý kính. Chư Phật là đối tượng chúng ta lễ kính. Chư Phật là ai? Kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy: “Tình dữ vô tình đồng viên chủng trí!”; nghĩa là hữu tình và vô tình đều là chư Phật. Hữu tình là loài có hàm thức như người, động vật, quỷ thần,… Vô tình là loài không có hàm thức như công việc, cái bàn, cái cây,… Lễ kính chư Phật là dùng chân thành cung kính trong nội tâm để biểu hiện ra bên ngoài là sự cung kính để đối nhân xử thế tiếp vật giống như đối với đức Phật A Mi Đà không khác: đối với loài hữu tình như con người, quỷ thần,… phải lễ kính; đối với công việc của bản thân phải tận tâm tận lực cẩn thận để làm; đối với vật dụng như cái bàn, cái ghế,… phải giữ gìn xếp đặt ngay ngắn sạch sẽ. Ân sư Thích Tịnh Không thường dạy: “Hãy xem tất cả người, việc, vật đều là A Mi Đà Phật! Người này là A Mi Đà Phật, người kia là A Mi Đà Phật, người có ân với ta là A Mi Đà Phật, người hủy nhục hãm hại ta là A Mi Đà Phật, cái bàn này là A Mi Đà Phật, cái cây này là A Mi Đà Phật,… Tất cả người, việc, vật đều do A Mi Đà Phật biến hiện ra, đều từ Tự Tánh lưu xuất ra”.

2. Nguyện thứ hai là “Xưng tán Như Lai”:

Nguyện thứ nhất là đối với chư Phật, nguyện thứ hai là đối với Như Lai; nói “Xưng tán Như Lai” chứ không nói “Xưng tán chư Phật”. Chư Phật là nói trên Sự Tướng, Như Lai là nói trên Lý Tánh. Phàm phu dù có tạo tác đủ thứ ác nghiệp như chúng sanh cõi địa ngục, ngạ quỷ,… thì họ vẫn là chư Phật ở tương lai, tương lai nhất định sẽ có ngày giác ngộ thành Phật, Tự Tánh của họ so với đức Phật A Mi Đà không có gì khác biệt; chỉ có điều hiện tại họ đang là một vị Phật mê hoặc điên đảo; trong mắt của A Mi Đà Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật,… thì những chúng sanh này đều thật sự là Phật. Xưng tán Như Lai nghĩa là phải biết khen ngợi, tán thán hạnh thiện; không được khen ngợi, tán thán hạnh ác. Kinh Vô Lượng Thọ dạy: Khéo giữ khẩu nghiệp, không nói tội lỗi của người khác, không chê cười châm biếm tội lỗi của người khác.

3. Nguyện thứ ba là “Rộng tu cúng dường”:

Bố thí với cúng dường là một sự việc nhưng dụng tâm khác nhau, cúng dường là dùng tâm chân thành cung kính như đối với đức Phật để làm. Cúng dường có cúng dường tài, cúng dường pháp và cúng dường vô úy; trong đó, cúng dường pháp là thù thắng nhất. Cúng dường tài có nội tài là sức lao động của bản thân và ngoại tài là tài vật ngoài thân, cúng dường nội tài thù thắng hơn ngoại tài; quả báo của cúng dường tài là được tài phú. Cúng dường pháp là cúng dường Phật Pháp đến chúng sanh, giúp chúng sanh phá mê khai ngộ lìa khổ được vui; quả báo là thông minh trí huệ. Cúng dường vô úy là từ bi bảo hộ chúng sanh; đơn giản nhất là ăn chay và phóng sanh, không giết hại chúng sanh và không ăn thịt chúng sanh. Ba loại cúng dường thì trong mỗi loại đều hàm nhiếp hai loại kia,
ví dụ: Pháp sư giảng Kinh Vô Lượng Thọ là cúng dường pháp, thể lực và tâm lực của Pháp sư dùng cho việc giảng kinh là cúng dường tài, chúng sanh nghe được kinh Phật sanh tâm hoan hỷ không còn khổ não sợ hãi là cúng dường vô úy.

Cúng dường pháp rất thù thắng, chúng ta không biết giảng kinh thì cúng dường pháp bằng niệm Phật.
Ví dụ: Chúng ta gặp người liền chào “A Mi Đà Phật” là gieo chủng tử A Mi Đà Phật vào A-lại-da thức của họ; tương lai rất lâu xa về sau, họ sẽ nhờ nơi chủng tử Phật hiệu A Mi Đà Phật này mà tu hành vãng sanh Cực Lạc chứng thành Phật quả. Chúng sanh nhìn thấy tượng Phật, nghe giảng một câu Kinh Phật,… cũng là gieo chủng tử vào A-lại-da thức. Thậm chí, người xuất gia không tu hành, phá Giới; tuy rằng họ chết đi chắc chắn đọa địa ngục, nhưng hình tướng đầu tròn – áo tràng vuông đó chính là hình tướng của đức Phật, họ đi ra ngoài đường, mọi người nhìn thấy họ đều biết đó là “Phật tử”, chủng tử “Phật” này đã gieo vào A-lại-da thức của rất nhiều chúng sanh, là đã độ không biết bao nhiêu chúng sanh.

Cúng dường pháp có 7 cương lĩnh:

Điều thứ nhất là “Như giáo tu hành cúng dường”: Chúng ta đem tất cả mỗi câu mỗi chữ trong bộ Kinh Vô Lượng Thọ thực hành cho bằng được, đó chính là “như giáo tu hành cúng dường”; đây là điều quan trọng nhất, là thật sự “trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường”.
Bước 1: Kinh Vô Lượng Thọ đọc tụng 3000 biến.
Bước 2: Nghe giảng Kinh Vô Lượng Thọ để cầu giải nghĩa, cầu giải ngộ.
Bước 3: Sau khi đã rõ ràng tường tận đạo lý được dạy trong Kinh Vô Lượng Thọ thì phải nỗ lực thực hành, tu sửa thân tâm (thân – khẩu – ý) của mình cho giống với lời Phật dạy trong kinh; việc này chính là mô phỏng theo đức Phật A Mi Đà để học tập, là đồng tâm – đồng đức – đồng nguyện – đồng hạnh với A Mi Đà Phật.

Điều thứ hai là “Lợi ích chúng sanh cúng dường”: Khởi tâm động niệm, lời nói, việc làm của chúng ta phải xem xem đối với xã hội và tất cả chúng sanh có lợi ích hay không? Nếu có lợi ích thì chúng ta nỗ lực mà làm, nếu không có lợi ích thì nhất định không thể làm. Trong tất cả lợi ích, khiến tất cả chúng sanh hoan hỉ, tín thọ, phụng hành Phật pháp là lợi ích thù thắng nhất.

Điều thứ ba là “Nhiếp thọ chúng sanh cúng dường”: Muốn nhiếp thọ chúng sanh thì chính mình cần phải có đức hạnh, có tu trì, có học vấn. “Nhiếp thọ” chính là phải có một lực rất mạnh, có thể thu phục cảm hóa lòng người. Chúng ta phải làm một tấm gương tốt cho chúng sanh thấy: làm người tốt, nói lời hay, làm việc tốt, học Phật tốt, vãng sanh Cực Lạc tốt; làm một tấm gương tốt cho xã hội đại chúng noi theo.

Điều thứ tư là “Vì thay thế chúng sanh khổ nên cúng dường”: Trên kinh Phật đã nói rõ thọ dụng một đời của tất cả chúng sanh đều là tự làm tự chịu, ai cũng không thể thay thế cho ai. Thế nhưng, trong cái “không thể thay thế” cũng có cái “gần giống như thay thế”, đó là chúng ta phải nỗ lực thay thế chúng sanh khổ để mà làm. Ví dụ: Phật, Bồ-tát đến thế gian này thọ cái thân người, cũng trụ thế mấy mươi năm, như Thích Ca Mâu Ni Phật, trụ thế 80 năm, giảng kinh nói pháp cho chúng ta nghe 49 năm, khi Thế Tôn còn ở đời, tình hình đời sống giống y như chúng ta, còn khổ cực hơn chúng ta. Mỗi ngày, Phật đi ra bên ngoài khất thực, tối ngủ dưới gốc cây, 3 y mặc trên thân, tay cầm 1 bình bát; đời sống khổ như vậy Phật có thể không cần phải chịu nhưng Phật bằng lòng nhận chịu đời sống này, làm ra một tấm gương để cho chúng ta xem. Thay chúng sanh chịu khổ đều là để khiến cho tất cả chúng sanh giác ngộ.

Điều thứ năm là “Cần tu thiện căn cúng dường”: Thiện căn chính là tất cả thiện pháp từ nơi gốc này mà sanh ra. Phật dạy có 03 thiện căn của thế gian pháp là không tham, không sân, không si; và “cần tu Giới – Định – Huệ dứt diệt tham – sân – si”. “Giới” chính là tâm “Thanh tịnh”, “Định” chính là “Bình đẳng”, “Huệ” chính là “Giác”. Tâm thanh tịnh có thể phá tham, tâm bình đẳng có thể phá sân hận, giác có thể phá ngu si. Xuất thế gian pháp chỉ có 01 thiện căn, Phật dạy Bồ-tát chỉ có 01 thiện căn duy nhất là Tinh-tấn.

Điều thứ sáu là “Bất xả Bồ Tát nghiệp cúng dường”: Không luận chúng ta làm nghề nghiệp gì, chỉ cần chúng ta lợi dụng cái nghề nghiệp này để phục vụ xã hội, phục vụ chúng sanh, không phải vì tự tư tự lợi phục vụ cho bản thân; có thể khiến cho chúng sanh được thuận lợi và giác ngộ thì sự nghiệp này gọi là “Bồ Tát nghiệp”.

Điều thứ bảy là “Bất ly Bồ-Đề Tâm cúng dường”: Điều thứ bảy này và điều thứ nhất trong cúng dường Pháp là quan trọng nhất. Thể của tâm Bồ-Đề là gì? Thể của tâm Bồ-Đề là tâm chân thành với người, với việc, với vật; không dùng tâm hư vọng; phải nói lời thành thật, không tự lừa gạt mình, không lừa gạt người. Dụng của tâm Bồ-Đề là gì? Tâm chân thành khởi tác dụng chính là “Thâm tâm” cùng “Đại Bi tâm”. “Thâm tâm” là tâm thanh tịnh, bình đẳng, giác; là bản thân tự thọ dụng; chính là tâm rất ưa thích mong muốn thiện và đức. “Đại Bi tâm” là tâm đại từ đại bi; là thọ dụng đối với chúng sanh; đại từ là ban vui, đại bi là cứu khổ.

Chúng sanh thiện thì lễ kính, xưng tán và cúng dường họ; còn chúng sanh ác thì không xưng tán nhưng phải lễ kính và cúng dường họ.

4. Nguyện thứ tư là “Sám hối nghiệp chướng”:

“Nghiệp” là tạo tác, không những làm ác có chướng ngại mà làm thiện cũng có chướng ngại. Đó là đạo lý gì vậy? Làm ác thì quả báo ở ba đường ác: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh. Làm thiện thì quả báo ở ba đường thiện: Trời, Người, A-tu-la. Tóm lại, dù có làm thiện hay ác thì cũng không thể ra khỏi Tam-giới. Vậy, chúng ta phải làm thế nào? Phật dạy chúng ta phải tu “Tịnh nghiệp”. Cái gì gọi là “Tịnh nghiệp”? Đoạn tất cả ác, tu tất cả thiện mà không chấp trước chính là “Tịnh nghiệp”; nếu còn chấp trước thì cái nghiệp này không “tịnh”, liền sẽ sanh ra chướng ngại. Nghiệp chướng có hai loại là Phiền não chướng và Sở tri chướng, hai thứ này chướng ngại Tự Tánh (Phật Tánh) của chúng ta hiển lộ. Chữ “Sám hối” là Phạn – Trung cùng dịch; ý nghĩa của chữ “Sám” là chính mình có lỗi lầm, có thể có dũng khí nói với mọi người: “Tôi đã làm ra những việc xấu ác gì đó”; ý nghĩa của chữ “Hối” là nếu trước đây đã tạo ra lỗi lầm gì thì về sau tuyệt đối sẽ không tái phạm lỗi lầm giống như vậy nữa.

Sám hối chia làm 3 cấp bậc:

Một là “Phục nghiệp sám”: Chúng ta có thể đè tội nghiệp của mình xuống. Việc này tương đối dễ làm, đây là dùng Định để hàng phục nghiệp chướng. Ngày nay, chúng ta niệm câu Phật hiệu “A Mi Đà Phật” nếu hàng phục được nghiệp chướng thì “đới nghiệp” (mang nghiệp) vãng sanh. Nếu như không thể hàng phục được nghiệp chướng thì niệm câu Phật hiệu này không thể vãng sanh, gọi là: “Một ngày niệm 100.000 câu Phật hiệu, đau mồm rát họng cũng chỉ uổng công”, không thể vãng sanh Cực Lạc. Vì sao vậy? Vì không thể hàng phục được phiền não! Mang nghiệp chỉ có thể mang được nghiệp cũ, không thể mang được nghiệp mới. Không thể nói rằng “mang nghiệp” nên không cần lo, ngày ngày cứ tạo nghiệp rồi hết thảy đều có thể mang đi! Làm gì có loại đạo lý này? Nghiệp quá khứ tạo có thể mang đi, nghiệp hiện tại tạo không thể mang đi, phải hiểu được đạo lý này.

Công phu niệm Phật nếu có thể hàng phục được phiền não là “Công Phu Thành Phiến”. Công Phu Thành Phiến chính là đem câu Phật hiệu “A Mi Đà Phật” hàng phục được phiền não. Phiền não có thể chưa đoạn nhưng làm cho nó không khởi tác dụng, không khởi hiện hành, đó là thật dụng công, thật niệm Phật. Chúng ta nên biết, khi phiền não vừa khởi lên trong tâm: Gặp việc vừa lòng liền khởi lên tham ái – ngu si, tâm tham – si khởi lên liền “A Mi Đà Phật” làm cho tâm tham ái – si mê bị đè xuống, dùng danh hiệu “A Mi Đà Phật” đè tâm tham ái – si mê xuống khiến nó không khởi được tác dụng, đó gọi là công phu. Gặp việc không vừa lòng liền khởi lên tâm sân hận, tâm sân hận khởi lên liền “A Mi Đà Phật”, lại đè tâm sân hận xuống khiến nó không khởi được tác dụng. “A Mi Đà Phật! A Mi Đà Phật! A Mi Đà Phật!…” đè tham – sân – si xuống, luôn luôn đè nó xuống, quyết không để nó khởi tác dụng, đây gọi là niệm Phật.

Trong nhà Phật thường nói “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”. “Niệm” ở đây chính là phiền não khởi hiện hành, phiền não khởi hiện hành không nên sợ. Vì sao không sợ? Vì phiền não của bạn nhất định sẽ khởi hiện hành! Nếu phiền não của bạn không khởi hiện hành thì bạn chính là Phật Bồ Tát tái sanh, bạn không phải là phàm phu, là phàm phu thì phiền não nhất định sẽ khởi hiện hành. Vấn đề là bạn phải giác được nhanh. Giác chính là câu Phật hiệu “A Mi Đà Phật” có thể đề khởi ở ngay nơi cửa ải quan trọng này, Phật hiệu đề khởi lên làm cho phiền não bị chế phục. Rất quan trọng, phải biết niệm như vậy. Công phu Nhất Tâm Bất Loạn và Công Phu Thành Phiến của mỗi một người đều sâu – cạn không ngang bằng nhau, có người cao, có người thấp.

Hai là “Chuyển nghiệp sám”: Nghĩa là đem tư tưởng ý niệm chuyển đổi lại; từ nay về sau ta không còn vì chính mình nữa, mỗi niệm vì chúng sanh, mỗi niệm vì Phật pháp, tâm nghĩ như vậy, việc làm cũng như vậy, lời nói cũng như vậy; là “Chuyển phàm thành Thánh”, hiệu quả này vô cùng to lớn.

Ba là “Diệt nghiệp sám”: Sám hối cứu cánh là phải tiêu trừ hết tội nghiệp, diệt nghiệp đó mới gọi là cứu cánh. Có thể diệt hết hay không? Có thể! Vì sao vậy? Ở trên kinh Phật có một thí dụ, tội nghiệp đã tạo từ vô lượng kiếp, giống như một căn phòng tối ngàn năm, nhưng chúng ta đốt lên một ngọn đèn thì liền chiếu sáng nó, bóng tối liền không còn. Dùng “bóng tối” thí dụ cho “tội nghiệp”, dùng “đèn” thí dụ cho “trí huệ”. Do đây có thể biết, “Huệ” có thể phá tội nghiệp. Như vậy “Định” có thể hàng phục tội nghiệp, “Huệ” có thể phá tội nghiệp.

Từ trì Giới sẽ đắc Định, từ đắc Định sẽ khai Huệ. Vì sao có một loại người trì Giới tinh nghiêm nhưng họ không thể thành tựu được Định – Huệ? Vì họ vẫn vọng tưởng, phân biệt, chấp trước! Họ trì Giới được rất nghiêm, rất thanh tịnh, hiếm thấy, mọi người đều tán thán họ, thế nhưng họ vẫn có phiền não. Vì sao phiền não? Họ xem thấy người kia phá Giới, người nọ không giữ Giới, họ còn có những phân biệt này. Những phân biệt này làm cho công đức trì Giới của họ bị mất hết, không thể được Định. Cho nên, đức Lục tổ Huệ Năng dạy trong Đàn Kinh: “Nếu người chân chính tu hành, thì không thấy lỗi thế gian”. Người chân thật trì Giới sẽ không thấy lỗi thế gian. Người thế gian đã phạm rất nhiều lỗi lầm, nếu người trì Giới thật sự không thấy thì họ chẳng phải biến thành người mất trí rồi sao. Vậy vì sao gọi là không thấy? “Thấy” như “không thấy”, quyết không để ở trong lòng, chính là ý này. Người tu hành luôn là thông minh hơn người không tu hành thì làm sao có thể tu thành mất trí? Làm gì có loại đạo lý này! Thấy như không thấy, không để ở trong lòng, đó gọi là không thấy lỗi thế gian.

Khởi tâm động niệm tạo tác tội nghiệp có hai loại: Giá tội và Tánh tội.

“Giá” là phòng ngừa tạo tội nghiệp. “Tánh tội” là nếu đã tạo tác thì nhất định phạm tội, tương lai chắc chắn sẽ nhận ác báo; dù Phật có chế định Giới Luật hay không chế định.
Ví dụ:
“Sát sanh” là “Tánh tội”, dù chưa thọ năm giới nhà Phật mà sát sanh thì vẫn là có tội, tương lai phải nhận ác báo. Không thể nói không thọ giới thì sát sanh không có tội. Quốc gia chế định giết chết người thì nhất định phải xử tử hình; không thể nói vì tôi không hiểu pháp luật nên tôi cầm súng đi giết rất nhiều người, quốc gia không được phép tử hình tôi. Không hề có đạo lý như vậy!

Sát sanh, trộm cắp, dâm dục, nói dối là Tánh tội; uống rượu là Giá tội. Phật chế định giới cấm uống rượu là để đề phòng uống rượu say sẽ loạn Tánh rồi phạm Tánh tội. Sa Di Luật Nghi nói trên mình mang tiền là phạm đại giới. Vì sao Phật bảo người xuất gia trên người không nên mang theo tiền? Mang tiền cũng là giá Giới, vì phòng ngừa tâm tham: tiền càng nhiều thì tâm tham càng nặng, càng nhiều thì càng khó xả được; cho nên Phật cấm người xuất gia cầm tiền trong tay. Trên người không được mang theo tiền, trên tay không được cầm vàng bạc, tiền của, vật báu, đều là thuộc về giá giới.

Phạm phải Giá tội thì y theo phương pháp sám hối Phật dạy: Bạch chúng, tuyên bố với mọi người ta đã làm ra những việc sai lầm gì, những gì răn dạy của Phật ta chưa thể tuân thủ; sau này ta không phạm lại nữa.

Phạm phải Tánh tội thì sám hối phải có Sự sám và Lý sám:

Sự sám: là tu tâm thanh tịnh, là đắc được Định. Định hàng phục được tội nghiệp nên làm cho tội nghiệp không khởi hiện hành.
Lý sám: là khai Huệ, nghĩa là tu tâm thanh tịnh khai được trí huệ. Huệ thấu suốt được chân tướng của tội nghiệp nên nhổ được tận gốc tội nghiệp. Phật nói “vạn pháp đều không”. Vạn pháp do duyên sanh, nếu là pháp duyên sanh thì ngay nơi thể của nó đều là không, không thể có được. Vậy chúng ta tạo tác chủng chủng tội nghiệp là duyên sanh, đã là pháp duyên sanh thì đương nhiên cũng là ngay nơi thể của nó đều là không, không thể có được, đó là đạo lý nhất định. Nếu rõ được đạo lý này, khế nhập được Tánh Không, khế nhập là chứng đắc cảnh giới này, thì tội liền tiêu diệt. Nếu chưa chứng đắc cảnh giới Tánh Không, chưa vào được cảnh giới này thì tội nghiệp vẫn là có! Khai Huệ là chuyển phiền não thành Bồ-đề, nhập vào Nhất Chân Pháp Giới, siêu vượt cả Lục đạo luân hồi và Mười pháp giới.

Sám trừ 10 loại tâm thuận theo sanh tử:

Một là “Chấp trước cái bản ngã hư vọng từ Thân Kiến khởi lên”: chính là tự tư tự lợi, xem cái thân này chính là ta nhưng thật ra thân chỉ là thứ ta sở hữu, là công cụ của ta. Muốn phá Thân Kiến thì Đại-thừa có pháp xảo diệu là đem ý niệm tự tư tự lợi chuyển đổi thành ý niệm vì chúng sanh, vì Phật pháp để phục vụ, gọi là “hy sinh phụng hiến”. Phật pháp nói: “Vì chính mình chính là ác, vì người khác chính là thiện”, đây là tiêu chuẩn thiện – ác của nhà Phật.

Hai là “Bên trong có phiền não”

Ba là “Bên ngoài có ác duyên”

Bốn là “Thường tạo mười ác nghiệp”

Năm là “Tâm ác biến khắp”: Phật nói tuy rằng bạn tạo ra việc ác nhỏ, thế nhưng tâm của bạn là đại ác, tâm ác bao trùm khắp nơi. Bạn không thể làm việc đại ác là do duyên chưa chín muồi, nếu như duyên chín muồi thì việc đại ác của bạn sẽ từ nơi tâm đại ác mà thành tựu. Tạo ác cũng phải có phước báo, không có phước báo thì chỉ có thể làm ác nhỏ, không thể làm được việc ác lớn.

Sáu là “Ý niệm làm ác tiếp nối không ngừng”

Bảy là “Che giấu, tránh né lỗi lầm của chính mình”

Tám là “Ngoan cố, cố chấp, ngang ngược, tàn ác”

Chín là “Vô Tàm, Vô Quý, không đầy đủ Phạm hạnh của bậc Thánh”: “Tàm” là tâm hổ thẹn, lương tâm bị dày vò. “Quý” là sự phê bình đến từ bên ngoài như dư luận xã hội, sự phê bình của Thánh nhân. “Phạm hạnh” là hạnh thanh tịnh, lìa khỏi ô nhiễm của ngũ dục lục trần.

Mười là “Không tin nhân – quả báo ứng”

Tu mười loại tâm nghịch sanh tử luân hồi:

Một là “Minh tín nhân – quả”: “Minh” là trí huệ, “minh tín” nghĩa là không mê tín, đối với chân tướng sự thật đã làm rõ ràng tường tận, thông suốt thấu đáo, chân thật tin tưởng đối với nhân – quả. Phật nói tất cả kinh điển đều không rời nhân quả, thế gian pháp không thể thoát khỏi nhân quả, Phật pháp cũng không thể thoát khỏi nhân quả. “Phật pháp giai không! Nhân – quả bất không!”; quá khứ bạn giết hại một chúng sanh thì tương lai dù bạn có chứng địa vị Bồ-tát A-duy-việt-trí, nếu có duyên gặp lại chúng sanh này thì bạn vẫn phải trả nợ mạng cho họ; không phải là thành Bồ-tát rồi thì món nợ mạng này không phải trả nữa, không có đạo lý này! Nhân – quả dung thông 3 đời là đời quá khứ – đời hiện tại – đời vị lai; đã tạo nhân mà chưa nhận quả báo là do duyên chưa đầy đủ, nếu hội đủ nhân – duyên thì quả báo chắc chắn hiện tiền.

Hai là “Tự hổ, khắc trách”: là tự sanh tâm khổ thẹn mà trách cứ chính bản thân mình. Bồ-tát thấy tất cả chúng sanh với mình là Nhất Thể nên luôn nghĩ: “Vì ta tu chưa tốt nên chúng sanh mới phải chịu tội chịu khổ! Vì ta tu chưa được tốt nên thế gian này có tai nạn nhiều đến như vậy, khiến cho chúng sanh khổ!”.

Ba là “Bố úy ác đạo”: là có tâm khiếp sợ ba đường ác. Địa ngục là hỏa đồ, địa ngục giống một biển lửa. Ngạ quỷ là đao đồ, ngạ quỷ luôn hoảng sợ như có người cầm đao muốn giết họ. Súc sanh là huyết đồ, súc sanh chết đi đa phần đều do bị giết, bị ăn thịt,…

Bốn là “Bất phú hà tì”: là chính mình tạo tác lỗi lầm không nên che giấu, phải phát lồ sám hối.

Năm là “Đoạn tương tục tâm”: là phải “đoạn” cái tâm liên tục tạo tác tội nghiệp. Sáu căn tiếp xúc với cảnh giới bên ngoài: nếu thuận với ý của chính mình thì lòng tham và si mê liền khởi lên, nếu không thuận với ý của mình thì tâm sân hận liền khởi lên. Nếu muốn đoạn tâm tham – sân – si đang tiếp nối khởi lên liên tục thì phải lập tức đề khởi danh hiệu “A Mi Đà Phật” để đè ác tâm này xuống, không cho những ác tâm này tiếp tục khởi lên.

Sáu là “Phát tâm Bồ Đề”: Thể của tâm Bồ-Đề là tâm chân thành, từ Thể khởi lên Dụng. Cho nên, nhà Phật dạy: “Tu hành phải bắt đầu hạ thủ công phu từ không vọng ngữ”; phải bắt đầu từ không lừa người, không gạt chính mình. Tâm chân thành bị những thứ gì chướng ngại? Phiền não chướng và Sở tri chướng! Cách đoạn phiền não chướng thế nào? Phải bắt đầu khắc chế và đoạn trừ năm dục (Tiền tài, sắc dục nam nữ, danh vọng – lợi dưỡng, ăn uống, ngủ nghỉ) và lục trần (Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Pháp trần là tất cả những hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, cảm nhận của thân thể có tính trừu tượng của sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần và xúc trần được lưu lại trong tâm thức); Phật dạy cho đệ tử đời sau phải “lấy Giới làm thầy, lấy khổ làm thầy”. Phật tuy không tán thành tu khổ hạnh, thế nhưng Phật lại tán thán tu khổ hạnh. Vì sao vậy? Vì con người nếu có thể trải qua đời sống thanh đạm, ý niệm của “vật dục” sẽ rất tan nhạt; hay nói cách khác, rất dễ đoạn phiền não. Nếu đời sống ham thích hưởng thụ “vật dục” thì không có năng lực hàng phục năm dục – sáu trần, phiền não sẽ rất khó đoạn. Phiền não chưa dứt thì tâm Bồ-Đề không thể sanh khởi. Điểm này phải đặc biệt chú ý. Vì sao vậy? Bởi vì muốn vãng sanh Thế Giới Tây Phương Cực Lạc thì điều kiện trên Kinh Vô Lượng Thọ chính là: “Phát tâm Bồ-Đề, một lòng chuyên niệm A Mi Đà Phật”; đầu tiên là phải phát được tâm Bồ-Đề, vô cùng quan trọng. Trong cuộc sống, chúng ta nhất định phải tiết kiệm, không nên lãng phí, phải tiếc phước; tuy chính mình có phước báo cũng phải tiếc phước, không nên lãng phí. Phước báo dư ra thì phân cho chúng sanh cùng hưởng, không nên chính mình có phước chỉ một mình hưởng hết, hưởng phước sẽ mê hoặc điên đảo. Chính mình có phước, cho dù có rất nhiều phước báo, chúng ta chỉ hưởng thụ một chút thôi, tất cả phước còn lại đều chia cho chúng sanh hưởng. Phá sở tri chướng phải dùng trí huệ và học vấn chân thật để phá. Học vấn và trí huệ chân thật đều ở trên kinh Đại-thừa, dùng Kinh Vô Lượng Thọ để khai mở trí huệ là tốt nhất.

Bảy là “Tu công bổ quá”: “Quá” là sai lầm, tội lỗi. Trong đời quá khứ hoặc đời này, chúng ta đã làm sai rất nhiều việc, đều là có lỗi lầm; Phật khuyên bảo chúng ta phải nỗ lực tu thiện để bù đắp lỗi lầm của chúng ta. Tất cả tội lỗi ác đã làm, khi hội đủ nhân – duyên đều phải nhận lấy ác báo. Thế nhưng, ngay đời này, nếu bạn nỗ lực tu thiện, bạn tu thiện đặc biệt mạnh, sức mạnh cái thiện của bạn lớn thì thiện báo sẽ báo trước, ác báo sẽ chậm lại và lùi lại phía sau; ác báo sau, thiện báo trước. Nếu như cái lực lượng ác mạnh, thì cái ác sẽ báo trước, cái thiện mà bạn làm sẽ báo sau, không hề có chuyện không báo. Định luật nhân – quả là chân lý!

Tám là “Thủ hộ Chánh Pháp”: Hộ trì Chánh Pháp là công đức lớn nhất trong tất cả pháp thế gian và xuất thế gian! Làm thế nào để hộ trì Chánh Pháp? Phải có phước đức và trí huệ! Không có phước – huệ thì chỉ có làm hại Chánh Pháp chứ không thể thủ hộ Chánh Pháp. Làm thế nào để có phước đức và trí huệ? Niệm danh hiệu “A Mi Đà Phật” là người có phước báo đệ nhất! Niệm danh hiệu “A Mi Đà Phật” là người có trí huệ đệ nhất!

Chín là “Một lòng chuyên niệm A MI ĐÀ PHẬT”: Mười phương ba đời tất cả chư Phật chính là đức Phật A Mi Đà! “Niệm mười phương Phật” như thế nào? Chính là niệm “A Mi Đà Phật”!

Mười là “Quán tội Tánh Không”: Quán tội Tánh Không là Diệt nghiệp sám, là khai mở trí huệ chân thật; nhà Phật thường nói: “Vạn pháp giai không”, tội báo cũng là một trong vạn pháp, nên nó cũng là Không. Bạn niệm Phật đến Lý Nhất Tâm Bất Loạn, bạn lại quán tội Tánh Không, vậy thì tất cả tội đều tiêu diệt; hay nói cách khác, bạn phải đoạn Kiến – Tư phiền não, đoạn Trần sa phiền não và phá một phẩm Vô minh; còn như niệm mới đến Sự Nhất Tâm Bất Loạn thì không thể diệt được tội.

Thực tế mà nói, hiện tại chúng ta dùng phương pháp “Chuyển nghiệp sám” là thù thắng nhất, là cao minh nhất!

Tôi lại nói với các bạn một phương pháp rất đơn giản, 20 loại tâm này thảy đều bao gồm trong việc trì niệm danh hiệu A Mi Đà Phật: Miệng niệm A Mi Đà Phật – Tâm nhớ nghĩ A Mi Đà Phật – Thân lạy A Mi Đà Phật; thân – khẩu – ý đều cung kính A Mi Đà Phật. Cho nên, trong nhà nên cúng một tôn tượng A Mi Đà Phật tiếp dẫn, mỗi ngày thường lạy Phật – thường niệm Phật – thường hay tưởng nhớ một vị Phật A Mi Đà này thì trong lòng của bạn liền thật có Phật. Cúng tượng Phật thì chỉ cúng một tôn tượng A Mi Đà Phật tiếp dẫn, không nên thường thay đổi. Nếu thường thay đổi thì khi bạn tưởng Phật sẽ có chướng ngại phiền phức, bạn sẽ tưởng vị này, rồi lại tưởng vị kia, vấn đề liền xảy ra: Khi lâm chung, rốt cuộc A Mi Đà Phật hiện ra cái tướng gì để tiếp dẫn mình? Cho nên tốt nhất cả đời chỉ cúng một tôn tượng A Mi Đà Phật tiếp dẫn.

Đầu thời nhà Thanh, Pháp sư Từ Vân Quán Đảnh viết bộ Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ, chính là Chú Giải của Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, trong Đại Tạng Kinh có bộ Sớ này, trong Vạn Tục Tạng của Nhật Bản cũng lưu giữ rất nhiều tác phẩm của Ngài, Ngài nói với chúng ta: “Tất cả chúng sanh tạo tội nghiệp ngũ nghịch cực trọng, bất cứ kinh luận sám pháp nào đều không thể sám trừ tội nghiệp này. Sau cùng, còn có một phương pháp, là niệm A Mi Đà Phật có thể sám trừ tất cả tội nghiệp!”.

5. Nguyện thứ năm là “Tùy hỷ công đức”:

Công đức phải do chính mình tu hành; trì Giới có công phu, được Định chính là đức; tu Định là có công phu, khai Huệ chính là đức. Cho nên “công” là tu nhân, “đức” là chứng quả. Công đức rất khó giữ, chỉ cần sân hận – ngạo mạn thì công đức toàn bộ đều biến thành phước đức; người trì Giới cảm thấy Giới Luật của mình rất tinh nghiêm, cảm thấy mình “rất đáng tự hào”, còn tâm chấp trước – phân biệt – vọng tưởng về lỗi lầm của chúng sanh thì đây là tâm ngạo mạn sanh phiền não, toàn bộ công đức đều bị mất sạch.

Phước của trì Giới có thể hưởng ở cõi trời, cõi người, cõi a-tu-la, cõi súc sanh, cõi ngạ quỷ; trừ cõi địa ngục là không hưởng phước.
Phước của tu Định hoàn toàn không hưởng ở ác đạo, thấp nhất là từ cõi trời Dạ Ma trở lên, cao nhất là đến trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
Huệ đã khai thì thoát khỏi Lục đạo luân hồi (Tiểu Trí Huệ của Tiểu-thừa), thoát khỏi Mười pháp giới (Đại Trí Huệ của Đại-thừa).

Thông thường, người thế gian xem thấy người khác tu tích công đức thì liền khởi lên ý niệm đố kỵ, xem thấy người khác tốt hơn mình thì trong lòng liền khó chịu, liền bực bội, nghĩ ra hết cách để chướng ngại, thậm chí còn tìm cách phá hoại; tội này rất nặng. Tùy hỷ công đức có thể đối trị tâm đố kỵ: người khác tu tích công đức vô cùng khó khăn vất vả, chúng ta vừa tùy hỷ công đức của họ thì chúng ta liền có được công đức mà họ rất vất vả khó khăn mới tu được! Tất cả chúng sanh với mình là Nhất Thể, chỉ có người ngu si mới không tùy hỷ công đức.

Tùy hỷ công đức có 3 cấp bậc:

Một là Toàn tâm toàn lực giúp đỡ người khác tu thành công đức: Công đức của người tùy hỷ là ngang bằng với công đức của người tu.

Hai là Chỉ có thể dùng được một vài phần tâm – lực giúp đỡ người khác tu thành công đức: Công đức của người tùy hỷ có được một vài phần so với công đức của người tu.

Ba là Tuy không thể dùng tâm – lực giúp đỡ người khác tu thành công đức nhưng hoan hỷ tán thán công đức của họ: Người tùy hỷ được một phần công đức của người tu.

Ví dụ: Công đức giảng kinh thuyết pháp phổ độ chúng sanh cả đời của Lục tổ Huệ Năng thì Pháp sư Ấn Tông có một nửa. Công đức giảng kinh thuyết pháp phổ độ chúng sanh cả đời của Ân sư Thích Tịnh Không thì bà Hàn Anh có hơn một nửa.

6. Nguyện thứ sáu là “Thỉnh chuyển Pháp-luân”:

Chuyển Pháp-luân là đem trí huệ chân thật trong tâm của Phật chuyển vào tâm của chúng sanh, giúp chúng sanh phá mê khai ngộ lìa khổ được vui. Ý nghĩa của thỉnh chuyển Pháp-luân là lưu thông Phật Pháp để phổ độ chúng sanh.

Không luận là xuất gia hay tại gia, là già hay trẻ, là nam hay nữ; nếu có thể giảng kinh Phật đúng theo Chánh Pháp thì gọi là Pháp sư, đều nên mời thỉnh. Cư sĩ tại gia có học vấn, có đức hạnh, có công phu chân thật; nếu muốn giảng kinh Phật thì phải thọ Bồ-tát Giới mới tránh khỏi lỗi lầm là hàng bạch y cư sĩ thuyết pháp. Hiện tại, thỉnh chuyển Pháp-luân là thỉnh mời Pháp sư giảng kinh thuyết pháp. Nếu như một người không đủ sức để thỉnh Pháp sư giảng kinh thì có thể liên kết nhiều người lại, tập hợp lực lượng lại, mọi người cùng nhau thỉnh, công đức đều là như nhau, đều là thù thắng không gì bằng. Giảng kinh thuyết pháp ảnh hưởng càng lớn thì công đức cũng sẽ càng lớn, ảnh hưởng được càng sâu thì công đức cũng càng sâu. Ví dụ: Cư sĩ Lưu Tố Vân là người đã chứng Niệm Phật Tam-muội, đã thọ Bồ-tát Giới và hiện tại đang giảng Kinh Vô Lượng Thọ.

Tuy nhiên, cầu người thì khó, cầu mình thì dễ. Thời đại bây giờ, Phật Pháp suy vi, người chân thật phát tâm vì Phật Pháp vì chúng sanh rất ít. Bản thân mình nên nỗ lực tu hành để sớm thành tựu công phu, đức hạnh và học vấn của mình; mình thành tựu rồi, nếu đủ duyên sẽ ra giảng kinh phổ độ chúng sanh.

7. Nguyện thứ bảy là “Thỉnh Phật trụ thế”:

Hiện tại, Phật không còn ở thế gian, cho nên chúng ta chỉ có thể đắp nặn tượng Phật để cúng dường, tượng trưng cho Phật pháp thường trụ ở thế gian. Chúng ta phải nên mời những vị Pháp sư đại đức thay Phật thuyết pháp trụ lại thế gian để giảng kinh nói pháp trong thời gian dài cho chúng ta thì chúng ta mới có thể nhận được lợi ích chân thật.

Vì sao vậy? Các vị thử nghĩ xem, có được mấy người chỉ nghe qua một lần giảng kinh mà được khai ngộ chứng quả? Không hề có! Vậy, nếu không có thì phải làm sao? Phải ngày ngày nghe giảng kinh!

Thực tế, người ngày nay phước báo không bằng người xưa. Vào thời xưa, ở trong tùng lâm tự viện của Trung Quốc, mỗi ngày đều giảng kinh không hề gián đoạn, trong tự viện có giảng đường. Lịch sử ghi chép, Pháp sư Thanh Lương năm xưa ở đời giảng Kinh Hoa Nghiêm qua 50 lần. Một lần giảng qua bao lâu? Chí ít là một năm! Nghe 50 biến là 50 năm! Trước đó không có người nào có cơ hội này, sau đó cũng không có người nào có được cơ hội này. Người nào được thân cận Pháp sư Thanh Lương, nếu như họ có lòng nhẫn nại, chịu ở dưới hội của Ngài nghe Ngài giảng Kinh Hoa Nghiêm 50 lần thì không có lý nào mà không thành tựu! Nếu mỗi ngày nghe giảng kinh 2 giờ, vẫn còn 22 giờ khởi vọng tưởng thì không có cách gì thành tựu!

Hiện nay, “Thỉnh chuyển Pháp-luân” và “Thỉnh Phật trụ thế” bên cạnh việc thỉnh mời Pháp sư giảng kinh Phật thì ứng dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật cao như truyền hình vệ tinh, internet,… để phát sóng giảng kinh; chỉ cần đào tạo – bồi dưỡng được một nhóm Pháp sư có khả năng giảng kinh, và những vị Pháp sư này sẽ giảng kinh trong phòng thu hình.

Việc phiên dịch kinh điển của Phật pháp là vô cùng quan trọng, đây là hạnh Bồtát. Nếu không có những người thật sự tu hành chứng quả làm công tác phiên dịch kinh sách thì việc này phải do một nhóm người miễn cưỡng gọi là nhân tài phiên dịch kinh điển tiến hành phiên dịch: họ chân chánh tu học Phật pháp, thật sự có tu – có học, thông đạt ngoại ngữ. Nếu chỉ biết ngoại ngữ mà không chân chánh học Phật thì việc phiên dịch kinh sách Phật pháp chắc chắn sẽ bị sai lầm nghiêm trọng! Trước khi phiên dịch bộ kinh nào phải thỉnh Pháp sư giảng bộ kinh đó cho thấu triệt, hiểu rõ rồi mới viết bản thảo và thực hiện công tác phiên dịch.

8. Nguyện thứ tám là “Thường tuỳ Phật học”:

“Thường tùy Phật học” là hồi hướng Chánh Giác, chính là hồi hướng Bồ-Đề, là thường học tập theo Phật để cầu Trí-huệ vô thượng của Phật.

9. Nguyện thứ chín là “Hằng thuận chúng sanh”:

“Hằng thuận chúng sanh” là hồi hướng chúng sanh. Phật dạy trong Kinh Hoa Nghiêm là tất cả chúng sanh trong tận hư không khắp pháp giới cùng với chúng ta là Nhất Thể, cùng một Tự Tánh, cùng một Chân Tâm, cùng một Lý Thể biến hiện ra. Cảnh giới tuy là không giống nhau, nhưng Thể là tương đồng.

Hồi hướng chúng sanh như thế nào? Chúng ta lấy tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm từ bi để quan tâm tất cả chúng sanh, yêu thương tất cả chúng sanh, toàn tâm toàn lực giúp đỡ tất cả chúng sanh. Quan tâm – giúp đỡ chúng sanh chính là quan tâm – giúp đỡ chính mình; không biết quan tâm – giúp đỡ chúng sanh là không biết quan tâm – giúp đỡ chính mình.

10. Nguyện thứ mười là “Phổ giai hồi hướng”:

“Phổ giai hồi hướng” là hồi hướng pháp giới, chính là hồi hướng Tự Tánh, hồi hướng Chân Như; cũng chính là nói chúng ta khởi tâm động niệm, lời nói, việc làm, đều có thể tương ưng với Tự Tánh thì đúng rồi.

Phàm phu muốn tu Phổ Hiền Hạnh Nguyện phải phát đại tâm; Kinh Hoa Nghiêm gọi phàm phu phát đại tâm là Đại Tâm Phàm Phu, nghĩa là phàm phu tâm lượng lớn: “Tâm bao thái hư, lượng châu sa giới”. A-la-hán vì sao có thể vượt ra khỏi Tam-giới? Bích-chi-Phật, Bồ-tát vì sao có thể vượt ra khỏi Tam-giới? Vì tâm lượng của các Ngài còn lớn hơn Tam-giới nên các Ngài vượt qua. Phương pháp này rất vi diệu. Đoạn phiền não để vượt Tam-giới là cách làm rất ngốc, rất khổ, rất khó tu. Phật dạy chúng ta phương pháp rất tuyệt diệu, đó là tâm lượng vừa mở rộng thì liền đột phá, phương pháp này rất hay. Bên ngoài Tam-giới vẫn còn một ải là Mười pháp giới, nếu tâm lượng của chúng ta cũng có thể lớn hơn cả Mười pháp giới thì vượt thoát Mười pháp giới, là thành công rồi. Cho nên Phật cùng Pháp Thân Đại-sĩ là “Tâm trùm hư không, lượng khắp pháp giới”.

(Trích lục ý nghĩa từ bài giảng Kinh Vô Lượng Thọ của Ân sư Thích Tịnh Không)
Đạo tràng Tịnh Độ tông Chúng Cư Sĩ Diệu Âm kính cẩn trích lục và biên soạn